Bệnh tai xanh trên heo

Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên heo PRRS hay còn gọi là bệnh heo tai xanh là bệnh do virus gây ra, thuộc nhóm arterivirus được phân loại lần đầu vào đầu năm 1991. Triệu chứng của bệnh được ghi nhận ở Mỹ vào giữa những năm 1980 và được gọi là căn bệnh bí ẩn trên heo hoặc bệnh tai xanh.

Virus PRRS có ái lực với các đại thực bào, đặc biệt là các đại thực bào bên trong phổi. Đại thực bào là một phần của hệ thống miễn dịch của cơ thể. Chúng có nhiệm vụ bắt lấy và tiêu diệt các vi khuẩn, virus xâm nhập vào cơ thể. Các đại thực bào bên trong phổi được gọi là đại thực bào phế nang. Trái với các loại vi khuẩn, virus khác, đại thực bào không phá hủy virus PRRS. Thay vào đó, virus PRRS sinh sôi bên trong chúng và giết chết các đại thực bào. Có đến 40% đại thực bào bị phá hủy khi cơ thể gia súc bị virus xâm nhập.

Sự tồn tại của virus trong bầy liên quan đến nhiều yếu tố. Một ví dụ thông thường là sự gia tăng đáng kể tình trạng viêm phổi trên heo lứa và heo thịt khi chúng bị nhiễm virus PRRS. Một ví dụ khác là sự gia tăng các trường hợp viêm màng não trong bầy do Streptococcus type 2. Điều này đã được một nhóm các nhà nghiên cứu quan sát thấy khi thực hiện thí nghiệm về sinh sản và viêm màng não do Streptococcus. Một khi trong bầy đã nhiễm PRRS thì virus có xu hướng tồn tại vĩnh viễn trong bầy. Lây nhiễm bắt đầu một khi heo con không còn nhận được kháng thể từ sữa mẹ. Nguồn truyền lây từ những con heo lớn đã bị nhiễm trước đó trong bầy, đây là thủ phạm làm cho bệnh hô hấp liên tục diễn ra bên trong trại.

Phương pháp truyền lây

Virus truyền lây qua dịch tiết nước mũi, nước bọt, phân và nước tiểu, nghiên cứu thực địa cho thấy nó có thể truyền lây qua không khí đến 3km.

Heo có thể mang trùng kéo dài 2-3 tháng. Ở một số cá thể có thể kéo dài lâu hơn, mặc dù chúng không phát tán virus ra ngoài.

Gieo tinh nhân tạo cũng có thể là một phương pháp truyền lây bệnh tiềm tàng khi sử dụng tinh của những con heo có virus trong máu.

Heo trưởng thành có thời gian bài thải virus ngắn hơn (14 ngày) so với những con heo đang lớn (1-2 tháng). Virus PRRS có thể lây nhiễm cho bào thai từ giữa chu kì mang thai trở đi và thải ra virus từ nước bọt, sữa đầu và sữa.

Các phương pháp truyền bệnh chủ yếu

  • Di chuyển, nhập bầy những con heo mang trùng.
  • Lây truyền qua không khí đến 3km.
  • Lây truyền cơ học qua phân, bụi, dịch tiết và các thiết bị, dụng cụ nhiễm virus.
  • Giày, ủng, quần áo nhiễm mầm bệnh.
  • Phương tiện ra vào, đặc biệt trong thời tiết lạnh.
  • Thụ tinh nhân tạo khi heo nọc đã bị nhiễm bệnh. (Rất quan trọng nếu chúng ta lấy tinh từ những nơi không rõ nguồn gốc).
  • Vịt và các loại chim khác mang trùng.

Xem thêm: Tinh giống Duroc chất lượng cao của HCNTV

PRRS lây nhiễm cho tất cả các con heo trong bầy, từ những con có sức khỏe tốt đến bình thường, nuôi chuồng kín hay chuồng hở và không phân biệt kích thước của heo.

Dấu hiệu lâm sàng trên đàn giống

Bức tranh lâm sàng có thể khác nhau rất lớn giữa bầy này với bầy khác. Một ví dụ như, cứ mỗi ba bầy bị phơi nhiễm PRRS lần đầu tiên thì một bầy sẽ không ghi nhận được dấu hiệu bệnh gì, bầy thứ hai có biểu hiện bệnh vừa phải và bầy thứ ba có tỉ lệ bệnh nghiêm trọng hơn. Điều này vẫn chưa được lý giải thấu đáo. Tuy nhiên, bầy có sức khỏe càng cao thì càng ít có khả năng mắc bệnh nghiêm trọng. Virus có thể biến chủng và sinh sôi lên thành các chủng có độc lực cao hơn hoặc không. Chủng virus PRRS Bắc Mỹ đặc biệt nguy hiểm.

Thể cấp tính

Khi virus nhiễm vào đàn thì bệnh có thể lây cho heo mẹ, heo nái nuôi con, và heo con đang bú.

Bệnh tai xanh có tử số cao hơn trên heo con và heo lứa do sức đề kháng của chúng kém hơn

Dấu hiệu lâm sàng ở heo nái khô trong suốt tháng đầu tiên bị nhiễm bệnh

  • Cứ khoảng chu kì 7-14 ngày sẽ có khoảng 10-15% số nái chán ăn, ăn ít.
  • Thân nhiệt có thể tăng từ 39-40ºC
  • Sẩy thai, thường ở kì cuối, tỉ lệ khoảng 1-6% tùy mức độ. Đây là dấu hiệu đầu tiên cần chú ý.
  • Sự thay đổi màu sắc của tai có thể quan sát được (tỉ lệ 2%, hay còn gọi là tai xanh)
  • Một số nái đẻ sớm khoảng 4 tuần, tỉ lệ 10-15%.
  • Tăng số lần lên giống lại 21-35 ngày sau khi phối.
  • Không động dục kéo dài và chậm lên giống lại sau cai sữa.
  • Ho và các dấu hiệu bệnh hô hấp.

Dấu hiệu lâm sàng ở heo nái đẻ trong tháng đầu tiên nhiễm bệnh

  • Chán ăn trong suốt kì đẻ.
  • Lười uống nước.
  • Viêm vú.
  • Đẻ sớm 2-3 ngày.
  • Thay đổi màu da kèm theo các nốt mụn, vết loét trên da.
  • Lơ mơ.
  • Dấu hiệu hô hấp.
  • Thai khô, 10-15% có thể chết vào 3-4 tuần cuối của giai đoạn mang thai.
  • Heo con chết khi sinh có thể lên đến 30%.
  • Heo con sinh ra yếu ớt.

Tai có thể tím hoặc xanh và có ít hơn 5% số nái có biểu hiện này. Có khi chúng chỉ xuất hiện tạm thời và kéo dài chỉ vài giờ. Một số nái ho, một số cá thể khác có thể có biểu hiện viêm phổi. Tình trạng này có thể kéo dài trong bầy đến 6 tuần và đặc trưng là nái đẻ sớm, tăng số heo con đẻ non, heo con yếu ớt và một lượng lớn heo con bị khô thai ở 3 tuần cuối của giai đoạn mang thai.

 

Tai xuất huyết do PRRS, vết xuất huyết chỉ kéo dài vài ngày
Chân heo nái xuất huyết do sốt cao

Tại một số đàn, con số này có thể lên đến 30% tổng số heo được sinh ra. Tỉ lệ heo con bị chết đạt cao nhất khoảng 70% tại tuần 3-4 sau khi bắt đầu các triệu chứng và chỉ quay lại bình thường sau 8-12 tuần. Những vấn đề sinh sản có thể kéo dài 4-8 tháng trước khi quay trở lại bình thường.

Hậu quả dài hạn

Hậu quả dài hạn của PRRS trên năng suất sinh sản rất khó để đánh giá, đặc biết đối với đàn heo có sức khoẻ kém. Có rất nhiều trường hợp gieo tinh lần 2, viêm tử cung và xảy thai, đều có thể do PPRS.

Ảnh hưởng của PRRS sau 12 tháng được ghi nhận như sau (đã kiểm soát được bệnh nhưng hậu quả vẫn còn):

  • Giảm tỉ lệ đẻ 10-15%.
  • Giảm số heo con sống sót khi sinh.
  • Tăng số heo con chết khi sinh.
  • Nái hậu bị năng suất kém.
  • Đẻ non.
  • Tăng mức độ xảy thai hoặc thai tái hấp thu (từ 2-3% nhưng có báo cáo tăng lên đến 50%)
  • Heo thiếu tính thèm ăn lúc đẻ.

Một số đàn báo cáo rằng PRRS vẫn có liên quan đến các đợt phối giống thất bại ở heo và làm tăng số lần lên giống lại (5-10%) cho đến khoảng 6 tháng sau khi giai đoạn cấp tính đã giảm.

Dấu hiệu lâm sàng ở heo con

Trong giai đoạn đầu của bệnh, heo được sinh ra trong tình trạng rất yếu và nhanh chóng hạ đường huyết bởi vì nó không thể tìm được vú mẹ để bú. Cùng với heo yếu sẽ có một số lượng lớn các thai chết lưu và chết khô sau sinh. Heo con sơ sinh có chất dịch nâu dính trên mí mắt và thường có các vết loét rất nhỏ ở da. Sốt, viêm phổi và ho thường được thấy nhưng càng lớn thì chất lượng và khả năng sống sót của heo con được cải thiện. Ta cũng có thể nhìn thấy heo bị đói, liệt chân sau (hội chứng splayleg), run rẩy, chèo và vòm đầu, xuất huyết não do chấn thương…

Xem thêm:

Hội chứng liệt chân sau, Splayleg trên heo con

Bệnh viêm tử cung trên heo nái

Bệnh tương tự

Bệnh Aujeszky (AD), lần đầu tiên được phát hiện trong bầy có thể bị nhầm lẫn với PRRS nhưng ở bệnh giả dại còn có các dấu hiệu thần kinh trong khi  PRRS thì không có dấu hiệu này. Xét nghiệm huyết thanh học sẽ phân biệt giữa hai loại bệnh này.

Dấu hiệu trên nọc

  • Chán ăn
  • Tăng thân nhiệt
  • Bơ phờ
  • Giảm hưng phấn
  • Giảm số lượng và chất lượng tinh

Điều trị

  • Vẫn chưa có phương pháp điều trị bệnh do virus gây ra. Tuy nhiên đối với bệnh PRRS, cần thiết phải ngăn chặn sự sinh sôi của các vi khuẩn kế phát, bình thường thì do các đại thực bào tiêu diệt chúng. Dùng kháng sinh liên tục từ 3-4 tuần ngay khi đã có chẩn đoán chính xác là bệnh hoặc nghi ngờ bệnh. Cần thiết nên dùng kháng sinh hòa tan với nước và trộn vào thức ăn.
  • Ưu tiên điều trị để giảm bớt các triệu chứng xảy thai, chết non, thai khô và đẻ sớm bởi các vi khuẩn thứ phát.
  • Heo con nên được tiêm Oxytetracycline kéo dài hoặc Amox kéo dài vào ngày 3, 7 hoặc 14 ngày tuổi.
  • Cho uống Electrolytes để chống mất nước.

Quản lý và ngăn chặn

  • Tăng nhiệt độ chuồng đẻ trong suốt thời gian heo đẻ và trong lúc đang có bệnh lên 23 độ. (chuồng lạnh)
  • Cung cấp nơi ngủ thoải mái cho heo. Dùng dăm gỗ hoặc các vật liệu khác để tạo môi trường tốt nhất cho heo con.
  • Lắp đèn sưởi bên cạnh heo nái

Chương trình quản lý nái khô trong thời gian có bệnh cấp tính

  • Tránh mất nhiệt ban đêm.
  • Tăng nhiệt độ chuồng lên 21º. (chuồng lạnh)
  • Tránh gió lùa.
  • Lập tức trộn kháng sinh vào thức ăn heo liên tục 4 tuần. (Trong bài viết là các kháng sinh nhóm Tetracycline)
  • Nếu nái chán ăn, ít ăn thì nên hòa tan kháng sinh vào nước uống.
  • Điều trị chung cho cả nái hậu bị và nọc.
  • Tăng thức ăn thêm 0.5kg/con mỗi ngày sau khi điều trị được 4 tuần để phục hồi thể trạng.
  • Cần thiết thì tiêm kháng sinh cho những con nái không ăn hoặc không uống.

Chương trình quản lý cho nái đã phối trong suốt thời gian diễn ra bệnh

  • Thực hiện giống quy trình cho nái khô.
  • Chấp nhận việc bị giảm tỉ lệ đẻ từ 10-15%, sau đó có kế hoạch phối giống mới, thay thế các con nái đã bị loại thải.
  • Nhập đàn nái hậu bị đến những đàn đang bị phơi nhiễm để tạo được miễn dịch.
  • Cân nhắc sử dụng Vaccine cho những bầy chưa bệnh, đang được cách ly.
  • Không được phối những con nái hậu bị ít nhất 6 tuần sau khi bị phơi nhiễm hoặc đang làm vaccine.

Chương trình quản lý cho heo nái đẻ trong thời gian diễn ra bệnh

  • Tiêm kháng sinh cho nái 2 ngày trước khi đẻ, tiếp tục cho đến 3 ngày sau.
  • Sử dụng các kháng sinh có hoạt lực kéo dài, Oxytetracyclin LA hoặc các nhóm Beta-Lactam LA.
  • Trộn kháng sinh vào thức ăn mỗi ngày, từ 10-21 ngày sau đẻ.
  • Tăng nhiệt độ chuồng lên 22 độ. (Chuồng lạnh)
  • Thêm rơm, mùn cưa vào chuồng (nếu có thể) để tạo sự thoải mái nhất cho heo.
  • Cung cấp đủ nhiệt độ cho heo con.
  • Thực hiện từ 4-6 tuần đến khi hết dịch.

Gieo tinh nhân tạo

Ban đầu người ta nghĩ gieo tinh nhân tạo không lây truyền PRRS nhưng sau đó, các nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra rằng nó là nguyên nhân chính làm lây lan bệnh. Heo nọc có thể mang trùng từ 8-12 tuần sau khi bị bệnh hoặc trở thành vật mang trùng mãn tính (sẽ rất nguy hiểm nếu chúng ta lấy tinh từ những trại nọc có bệnh). Do đó, những con nọc khi được chuyển từ những trại dương tính cần được cách ly 8 tuần trước khi nhập bầy và cần theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu chán ăn hoặc sốt.

Miễn dịch

Các quan sát thực địa cho thấy những con nái trong trại giống khi có miễn dịch sẽ không bị bệnh ở các đợt bùng dịch đợt sau. Tuy nhiên, nếu virus vẫn còn lẩn quẩn xung quanh những con nái hậu bị và heo thịt thì trong một số trường hợp những con nái hay heo ốm yếu vẫn có khả năng phát bệnh.

Heo con chết do tiêm vaccine PRRS sai cách

Dấu hiệu lâm sàng trên heo cai sữa và heo thịt

Bệnh cấp tính

Khi virus lây sang những bầy không có mầm bệnh viêm phổi (EP), viêm phổi dính sườn (App) thì thường chỉ có triệu chứng bỏ ăn nhẹ hoặc ho vừa phải, ở một số bầy thậm chí không có triệu chứng. Tuy nhiên khi khi virus lây sang những bầy đã tồn tại viêm phổi, viêm màng phổi thì triệu chứng dữ dội hơn, viêm hóa cứng màng phổi, áp xe bên trong phổi. Bệnh trở nên rõ ràng hơn trong vòng từ 1-3 tuần sau cai sữa, heo có da nhợt nhạt, ho, hắt hơi và tăng nhịp thở. Tỉ lệ chết có thể đạt từ 12-15%.

Một khi các trại đã tưng bùng phát dịch thì việc phòng ngừa chỉ có ý nghĩa ở giai đoạn sớm, lúc mà các bệnh viêm phổi, chán ăn còn ảnh hưởng đến heo và gây thiệt hại heo con. Heo con bắt đầu nhiễm mầm bệnh sau khi kháng thể được truyền từ mẹ biến mất, sau đó chúng tiếp tục mang trùng từ 3-4 tuần và tiếp tục bài thải virus ra ngoài môi trường. Dấu hiệu lâm sàng đặc trưng được nhìn thấy ở giai đoạn 4-12 tuần tuổi heo chán ăn, kém hấp thu, ho, viêm phổi và chết, chúng ta có thể đoán trước được thời điểm diễn ra bệnh. Tỉ lệ chết sau cai sữa có thể lên đến 12% và có thể kéo dài dai dẵn mặc dù được điều trị bằng kháng sinh. Ta có thể tìm được bằng chứng về vi khuẩn thứ phát từ giai đoạn 12-16 tuần tuổi, khi các ổ áp xe xuất hiện bên trong phổi. Các ổ áp xe này còn lây xuống các phần khác của cơ thể, đặc biệt là các khớp, làm heo đi khập khiễng.

Các bệnh tương tự

Các bệnh hô hấp mãn tính thường do sự kết hợp của các mầm bệnh, bao gồm PRRS, sốt heo, App, Glasser và Pasteurella, thường thì chúng ghép với nhau. Khi đó, cần chẩn đoán các nguyên nhân kết hợp.

Điều trị

Kiểm soát cách ly

Đây là kĩ thuật đã được chứng minh là có giá trị đối với việc kiểm soát mãn tính trên đường hô hấp có liên quan đến virus PRRS. Mục tiêu là kiểm soát nhưng không loại bỏ hoàn toàn. Các nội dung chính bao gồm:

  • Cách ly heo cai sữa (nhiều hơn 21 ngày) theo lô hàng tuần vào một khu vực riêng biệt trong vòng 8 tuần.
  • Tiêm vaccine cho heo con vào lúc 1 và 3 tuần tuổi để ngừa Mycoplasma hyopneumoniae.
  • Loại bỏ tất cả những con heo choai, heo thịt còn lại.
  • Thực hiện xây dựng nguyên tắc cùng vào cùng ra, không để tiếp xúc giữa các lô.
  • Thả heo con đã cách ly trở lại chuồng thịt.
  • Kiểm soát/loại bỏ mầm bệnh trên đàn nái bằng vaccine/dược phẩm.

Vaccine

Vaccine sống được sử dụng trên heo cai sữa và heo hậu bị, heo chờ phối với điều kiện chúng được cách ly khoảng 8 tuần. Không khuyến khích sử dụng ở những con nái giống âm tính với virus do có những mối nguy tiềm tàng. Ở những bầy có vấn đề nghiêm trọng về bệnh hô hấp phức hợp với virus PRRS thì nên sử dụng.

Một điều cực kì quan trọng là khi trại đang có dịch thì không nên tiêm vaccine để dập dịch, rất nguy hiểm, chỉ nên tập trung phòng chống các bệnh kế phát và tăng sức đề kháng cho heo.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại vaccine PRRS chủng Bắc Mỹ của các công ty như: HIPPRA, Boehringer, Zoetis. Ngoài ra công ty Hanvet tại Việt Nam cũng đã sản xuất thành công vaccine tai xanh với chi phí rẻ hơn và đã được thị trường đón nhận.

Một số phác đồ kháng sinh dùng kiểm soát bệnh kế phát hiệu quả

Ngày 1: Một mũi Tulavitryl (Tulathromycin) liều 1ml 40kg, kèm theo các thuốc hạ sốt, trợ hô hấp.

Ngày 2-5: Tiêm Clinexin 5% (Ceptifour) liều 1ml 16kg, kèm theo các thuốc hạ sốt, trợ hô hấp, bồi dưỡng, hạn chế dùng Analgin tránh xuất huyết.

Kết hợp trộn thêm vitamin C, bồi dưỡng, men tiêu hóa.

Tạo môi trường thoải mái nhất cho heo, lót thêm rơm, lắp đèn ủ ấm, để chuồng luôn khô ráo.

Tiêu độc sát trùng đến khi hết dịch.

Xem thêm: Công dụng của rơm trong chăn nuôi heo.

Biên dịch, tổng hợp: Hội chăn nuôi Trà Vinh team

Fanpage: https://www.facebook.com/hoichannuoitravinh/

Chia sẻ:

4 bình luận về “Bệnh tai xanh trên heo

    • Không nên nhe bạn, không giống như dịch tả, thời hạn đáp ứng miễn dịch của tai xanh lâu ngày hơn, bầy đang có dịch nếu tiêm vào sẽ làm tình hình trầm trọng thêm.

Gửi một bình luận