Dập dịch và Interferon trong thú y

Interferon là một nhóm các protein tự nhiên được sản xuất bởi các tế bào của hệ miễn dịch ở hầu hết các động vật nhằm chống lại các tác nhân ngoại lai như virus, vi khuẩn, ký sinh trùng và tế bào ung thư. Nó chỉ được tổng hợp khi có mặt các chất sinh interferon (còn gọi là interferonogen). Interferon thuộc một lớp lớn của glycoprotein được biết đến dưới cái tên cytokine (chất hoạt hoá tế bào). Interferon đóng vai trò quan trọng trong cửa ngõ miễn dịch, nó là hàng rào bảo vệ đầu tiên của cơ thể chống lại virus và sự phát triển bất thường của tế bào.

Trên động vật có các nhóm Interferon chính:

Interferon type I gồm chủ yếu là: alpha (IFNα), beta (IFNβ)…

Interferon type II gồm: gamma (IFNγ)

Đặc tính sinh học: Chúng bền vững trước nhiều loại enzym: ribonucleaza, dezoxyribonucleaza… nhưng bị phân giải bởi proteaza và bị phá hủy bởi nhiệt độ. Đặc tính sinh học quan trọng của interferon là không có tác dụng đặc hiệu đối với virus (interferon được sinh ra do một loại virus có thể kìm hãm sự nhân lên của những virus khác).

Sau khi nhiễm virus, tế bào bị cảm ứng và sản sinh ra interferon, interferon không có tác dụng bảo vệ tế bào mẹ mà chỉ bảo vệ các tế bào bên cạnh, ở các tế bào này virus vẫn hấp phụ lên vách tế bào và xâm nhập vào bên trong tế bào, nhưng đến giai đoạn sao chép thông tin của virus thì interferon có tác dụng ức chế, kìm hãm sự tổng hợp mARN của virus, mARN của virus không được tổng hợp thì sự chuyển hóa axit nucleic và protein của virus cũng không tiến hành được, do đó không có hạt virus mới được giải phóng ra.

Hoạt động của IFNα không có tính đặc hiệu đối với loài. IFNα có nguồn gốc từ người có thể họat động trên tế bào của động vật và ngược lại. Ví dụ IFNα nguốc gốc từ bò có thể họat động trên tế bào xơ cấp của heo và người, IFNα của heo có thể họat động trên tế bào ngựa, bò và người. Nhìn chung IFN có một số họat tính như: Kháng virus, điều hòa miễn dịch, chống tăng sinh, kích thích sự biệt hóa tế bào..vv. Hoạt động kháng virus của IFN đã được chứng minh khi nghiên cứu với virus encephalomyocarditis, virus đậu, virus LMLM, virus PRRS, virus TGE, Gumboro, Newcastle, Influenza…vv và IFN cũng được xem như là một chất bổ trợ miễn dịch khi sử dụng kết hợp với vaccin LMLM và vaccine cúm gia cầm.

Các nhóm Inteferon chính

Xem thêm:

 INTERFERON: Ứng dụng phòng và trị bệnh gia súc

Ảnh hưởng của Interferon α với virus PRRS

Interferon không phải chỉ sản sinh ra trong các tế bào bị nhiễm virus mà interferon còn được tạo thành khi tế bào bị kích thích bởi một số chất lạ khác như: axit nucleic, vi khuẩn, độc tố của vi khuẩn, rikettsia, nguyên sinh động vật.

Trong các tế bào không bị nhiễm virus, các gen cấu trúc chịu trách nhiệm tổng hợp interferon luôn ở trạng thái không hoạt động, tức là bị kìm hãm, do đó ở tế bào bình thường không tạo nên interferon.

Ứng dụng trong thú y

Interferon được sử dụng như là tá dược trong vaccine

– Đối với gia cầm: Interferon gamma khi được dùng chung với kháng nguyên có tác dụng tăng cường đáp ứng kháng thể thứ cấp duy trì nồng độ cao trong một thời gian dài. Hơn nữa, việc kết hợp kháng nguyên với Interferon gamma đã làm giảm liều sử dụng vaccine.

– Đối với gia súc: Interferon alpha và beta được sử dụng kết hợp với vaccine phòng bệnh lở mồm long móng, PRRS… cho hiệu quả cao.

Interferon dùng chẩn đoán bệnh

– Interferon gamma dùng chẩn đoán: bệnh lao ở bò (Bovine tuberculosis), John’s disease, Brucellosis (bệnh do vi khuẩn gây ra)… Ngoài ra còn dùng chẩn đoán bệnh lao, bệnh phong hủi ở người.

– Interferon alpha dùng chẩn đoán bệnh IBR (Infectious Bovine Rhinotracheitis).

Interferon dùng trong phòng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm

Sử dụng Interferon alpha trong việc phòng, trị bệnh cho gia súc, gia cầm là một giải pháp thay thế kháng sinh an toàn – hiệu quả cao.

Interferon alpha cũng có nhiều ứng dụng: được sử dụng như tá dược trong vaccine làm giảm liều lượng và tăng cường hoạt tính của vaccine; được dùng để điều trị các bệnh do virus gây ra trên gia súc, gia cầm như bệnh viêm đường hô hấp, bệnh viêm vú, PRRS, TGEV, các bệnh cúm, Marek, Gumboro, viêm gan B..; ngoài ra còn hỗ trợ điều trị với kháng sinh mang lại hiệu quả cao, hạn chế hiện tượng nhờn thuốc của các vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, việc ứng dụng sản phẩm này sang lĩnh vực thú y bị hạn chế vì vấn đề giá thành sản phẩm

– Đối với trâu, bò:

+ Bệnh viêm đường hô hấp: Bovine herpesvirus 1- BHV 1 là nguyên nhân gây nên bệnh viêm đường hô hấp trên truyền nhiễm do virus ở bò với các triệu chứng điển hình như sốt, sẩy thai và kèm theo các triệu chứng hô hấp khác. Khi bò mắc bệnh này nếu được điều trị sớm với Interferon alpha thì sẽ giảm triệu chứng lâm sàng, giảm tỉ lệ chết do nhiễm khuẩn kế phát.

+ Bệnh viêm vú: Liệu pháp sử dụng kháng sinh chỉ mang lại hiệu quả vừa phải nên việc kết hợp điều trị với Interferon đã mang lại hiệu quả cao hơn, giảm hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và vấn đề tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi.

+ Bệnh do Salmonella: Điều trị kết hợp với Interferon alpha đã làm giảm nhiễm trùng máu, giảm sốt, hạn chế tiêu chảy và tỉ lệ chết.

– Đối với lợn: Interferon alpha được sử dụng như là một chất tăng cường tác dụng của hệ miễn dịch không đặc hiệu trong trường hợp con vật mắc các bệnh truyền nhiễm do vi rút ví dụ như PRRS virus, TGEV…

– Đối với gia cầm:

+ Tăng sức đề kháng với bệnh truyền nhiễm do Salmonella, E.coli…

+ Ứng dụng hiệu quả trong điều trị các bệnh do virus gây ra như: H5N1, Marek, Gumboro, viêm gan B do virus ở gia cầm.

Tham khảo: Interferon trên wiki

Trở lại với câu hỏi tại sao người ta hay dùng vaccine dịch tả để dập dịch trên heo đang bị nhiễm virus tả:

  1. Dùng để kích hoạt Interferon ở những con chưa bị bệnh hoặc đã bị bệnh để ngăn chặn bớt sự lây lan của virus.
  2. Tất cả các dòng virus gây bệnh Dịch tả Heo khi vào cơ thể chỉ tạo ra một nhóm kháng thể. Vì thế, bất cứ vaccine dịch tả nào vẫn kích thích đầy đủ hệ miễn dịch kiểm soát bệnh Dịch tả Heo tại châu Á.
  3. Thời gian đáp ứng miễn dịch đối với vaccine dịch tả heo rất nhanh, chỉ sau 3-7 ngày, và giá thành vaccine rất rẻ.

Tại sao lại không sử dụng vaccine tai xanh để dập ổ dịch tai xanh?

  1. Khi heo bị nhiễm PRRS, virus PRRS ức chế đáp ứng của interferon type I trong đại thực bào.
  2. Khác với dịch tả, virus PRRS có rất nhiều chủng biến đổi khác nhau, chúng ta không biết chắc chắn trại mình đang đối mặt với chủng nào nên việc dùng vaccine để dập dịch rất nguy hiểm, mặc dù interferon không đặc hiệu đối với virus nhưng có khả năng rất cao chúng ta sẽ mang thêm chủng virus khác vào trại dẫn đến khả năng nổ thêm chủng khác bên trong trại.
  3. Thời gian đáp ứng miễn dịch đối với vaccine Tai xanh kéo dài hơn. (~20 ngày).
  4. Giá thành cao hơn vaccine dịch tả.

Xem thêm:

Bệnh tai xanh trên heo

Bệnh dịch tả heo cổ điển

Tổng hợp: Hội chăn nuôi Trà Vinh team

Fanpage: https://www.facebook.com/hoichannuoitravinh/

 

Chia sẻ:

Gửi một bình luận